Chương 00: Thuở Khai Thiên
Mở trang sách cổ phủ mờ
Lắng nghe huyền tích cội bờ Lĩnh Nam
1. Thần Trụ Trời
Ngày xửa ngày xưa, từ thuở ban sơ trời đất dính liền thành một khối, vạn vật hỗn độn, muôn loài sống trong bóng tối. Ông Sáng Thế hy sinh thân mình nâng bầu trời lên, làm Cột Trụ Trời. Từ đó mà phân ra Thiên – Địa.
Nhiều trận chiến tranh giành lãnh địa và quyền lực nổ ra giữa các phe phái, cuối cùng các giống loài lại được phân thành Thần – Nhân – Ma, gọi là Tam Giới.
Đứng đầu cai quản Tam Giới là Thiên Đình, nơi nắm giữ Thiên luật và Vận mệnh của muôn loài. Đứng đầu Thiên Đình là Ông Trời và Bà Trời.
Trên Thiên Đình có nhiều hạng thần tiên khác nhau, mỗi người lo một việc và cai quản một phương.
…
2. Nước Văn Lang
Lạc Long Quân thuộc giống Rồng được cử tới khai phá vùng đất Lĩnh Nam. Ngài dẹp nạn Hồ Tinh cứu dân chúng.
Sau khi bị đánh bại, gia tộc Hồ Tinh đã quy phục Thiên Đình, không làm hại dân chúng nữa mà trốn vào hang hốc sống ẩn dật.
Trên núi cũng ở đất Lĩnh Nam ấy có nàng Âu Cơ thuộc giống Chim Lạc, thường xuyên giúp đỡ người dân. Lạc Long Quân gặp Âu Cơ, kết duyên. Cả hai sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con.
Ở nơi nàng Âu Cơ ở có một cây Đa Thần ban sinh khí cho vạn vật sinh sôi nảy nở, tươi tốt. Ngư Tinh – một nữ tướng của Lạc Long Quân đem lòng ghen tuông với Âu Cơ nên làm phản. Ả đánh cắp trái tim của Đa Thần, khiến cây đa khô héo hóa thành Quỷ Xương Cuồng (Mộc Tinh). Nó hút hết sinh khí của đất đai và cây cối quanh vùng, giết chóc muôn dân.
Lạc Long Quân và Âu Cơ phải cùng nhau hợp lực phong ấn Mộc Tinh lại. Sau đó, Lạc Long Quân tiếp tục trừng trị và phong ấn Ngư Tinh. Sau chuyện ấy Ngài cũng trở nên buồn phiền.
Nhận thấy đất – nước không hợp, ngũ hành tương khắc, Lạc Long Quân quyết định từ biệt Âu Cơ, đem theo năm mươi người con trở về thủy phủ quy ẩn. Còn nàng Âu Cơ cùng năm mươi người con ở lại Lĩnh Nam, tôn người con trưởng lên làm Vua cai quản dân chúng vùng ấy, lấy hiệu là Hùng Vương, lập nên nhà nước Văn Lang (khoảng năm 2524 TCN). Còn Lạc Long Quân được tôn là Quốc Tổ, Âu Cơ được tôn là Tổ Mẫu.

3. Ngựa sắt, Giáp sắt và Tre Đằng Ngà
Đến đời Hùng Vương thứ 6 (khoảng năm 1712 TCN), giặc Ân tràn sang xâm lược, thế giặc mạnh như chẻ tre. Vua Hùng lo lắng lập đàn cầu khấn, sai sứ giả đi tìm người tài.
Tại làng Phù Đổng có cậu bé lên ba vẫn chưa biết nói cười, nghe tiếng sứ giả thì bỗng cất tiếng đòi Vua rèn cho Ngựa sắt, Giáp sắt và Gươm sắt.
Người thợ rèn giỏi nhất nước Văn Lang thời bấy giờ tên là Đan, đã dồn hết tâm huyết, ngày đêm nung sắt rèn nên bộ thần khí ấy cho cậu bé. Nhận được binh khí, cậu bé vươn vai lớn nhanh như thổi, trở thành một Tráng Sĩ oai phong lẫm liệt, nhảy lên lưng ngựa sắt phun lửa, xông trận diệt giặc.
Thế nhưng, giữa trận tiền ác liệt, thanh gươm sắt do Đan rèn dù cứng đến đâu cũng không chịu nổi sức mạnh thần thánh của Gióng nên đã bị gãy đôi. Trong tình thế cấp bách, Gióng vươn tay nhổ những bụi tre bên đường quật vào quân giặc.
Kỳ lạ thay, những thân tre hấp thụ thần khí của Gióng bỗng trở nên cứng hơn cả sắt, dẻo dai hơn cả đồng. Thân tre bị lửa từ ngựa sắt nung đốt không cháy mà chuyển sang màu vàng óng, quật đến đâu giặc tan xác đến đấy.
Giặc tan, Gióng từ biệt mẹ và xóm làng, cưỡi ngựa bay về trời, để lại những bụi tre vàng ở lại nhân gian, người đời gọi là Tre Đằng Ngà. Nhân dân nhớ công ơn, lập đền thờ, sắc phong ngài là Phù Đổng Thiên Vương.
Người thợ rèn tên Đan lập công lớn, tài nghệ và danh tiếng vang khắp cõi. Vua Hùng ban cho làng ấy vàng bạc, gấm vóc, đổi tên thành “LÀNG RÈN ĐAN SỸ”. Cả làng duy trì nghề rèn truyền thống qua nhiều đời.
Thế nhưng, ước vọng của Đan là phải rèn ra thứ binh khí vĩnh cửu như Trời Đất. Sau khi ông qua đời, con cháu của ông tiếp tục đặt tên cho các con trai là Đan để tưởng nhớ di sản ông để lại, đồng thời không ngừng thực hiện di nguyện của ông: tìm cách luyện ra thứ binh khí trường tồn.

4. Chử Đồng Tử
Thời gian thấm thoát thoi đưa. Nước Văn Lang vào thời Hùng Vương thứ 18 (khoảng năm 300 TCN), ở thôn Chử Xá có chàng trai tên Chử Đồng Tử, nổi tiếng có đức hiếu sinh. Ban ngày, chàng lên rừng đốn củi, chiều tối lại ra đầm mò cua bắt ốc, xoay sở kiếm ăn để chăm sóc cho cha mẹ đã già. Khi cha mẹ mất, chàng thương cha mẹ nên trong nhà có gì cũng liệm theo, chỉ giữ lại cho mình một cái khố để mặc.
Hùng Vương có cô con gái tên là Tiên Dung, đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của Tiên Dung đến thăm vùng Chử Xá. Nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi thấy cảnh đẹp nước trong, bèn sai người quây màn ở bụi lau để tắm, ngờ đâu đúng ngay chỗ của Chử Đồng Tử. Nước xối cát trôi, để lộ ra thân thể của chàng. Tiên Dung kinh ngạc bèn hỏi han sự tình, cảm động bởi đức hiếu thuận của chàng, nàng cho đây là ý trời bèn kết duyên vợ chồng.
Hùng Vương nghe chuyện thì giận dữ vô cùng, không cho Tiên Dung về cung. Nàng biết ý nên cùng chồng mở chợ, buôn bán làm kế sinh nhai.
Một hôm, Chử Đồng Tử lên rừng hái lá thuốc, vô tình đi lạc vào sâu trong núi. Đang loay hoay tìm lối thoát thì thấy một con chim sẻ bị thương mắc vào mạng nhện. Chàng bèn cứu nó ra. Chim sẻ vui mừng cảm tạ rồi bay chỉ lối cho chàng về nhà. Nào hay con chim sẻ ấy là thú linh của Thái Bạch Kim Tinh.
Đêm ấy, Chử Đồng Tử nằm mộng thấy vị Đại Tiên râu tóc bạc phơ toạ trên mây trắng, nói rằng:
– Nhà ngươi có đức hiếu thuận, lại hiền lành tốt bụng với chúng sinh. Nay ta muốn ban cho ngươi phép Tiên để lên trời mà hưởng phước. Ý của ngươi thế nào?
Chử Đồng Tử vội quỳ xuống mà khấn rằng:
– Thưa Thần Tiên, con may mắn có người vợ hiền chịu bỏ hết vinh hoa phú quý mà chung sống. Nay không thể để cô ấy ở lại trần gian một mình. Xin nhường lại phước phần đó cho người xứng đáng.
Vị Đại Tiên bật cười, vuốt chòm râu bạc:
– Tốt lắm! Tốt lắm! Tâm sáng như ngọc. Vậy thì ngươi hãy đem cô ấy cùng theo, ba hôm nữa ta phái người đón ở núi Quỳnh Viên.
Nói xong Đại Tiên biến mất, chỉ còn lại tiếng cười văng vẳng trong không gian.
Tỉnh giấc, Chử Đồng Tử đem mọi sự truyền lại cho vợ. Tiên Dung bèn khuyên chồng bỏ hết việc buôn bán, cùng chồng chu du tìm thầy học đạo. Cả hai lênh đênh trên thuyền ba ngày thì tới ngọn núi giữa biển tên là Quỳnh Viên sơn. Một cơn lốc xoáy bỗng thổi tới cuốn hai người bay lên trời.
Chử Đồng Tử và Tiên Dung ở trên trời chăm chỉ học đạo phép. Nhờ tư chất thông minh sáng dạ, hai người học một lại hiểu mười, chẳng bao lâu sau thì giác ngộ.
Lúc bấy giờ Thái Bạch Kim Tinh mới hỏi hai người:
– Nay các con đã đắc đạo thành Tiên, có muốn ở lại nơi này để hưởng phép trường sinh cùng ta hay không?
Chử Đồng Tử và Tiên Dung nhìn nhau, rồi đồng lòng thưa rằng:
– Cảm tạ công ơn thầy dưỡng dục. Dưới trần gian chúng sanh vẫn còn lầm than. Vợ chồng con mong được trở về để giúp dân cứu đời, truyền giảng luân thường đạo lý, mong cho bá tánh từ đây mà sống tốt hơn.
Đại Tiên nghe vậy thì bấm ngón tay xem đoán trước tương lai, rồi phán:
– Các con quả là có lòng bao dung bác ái hiếm thấy. Nhưng chúng sinh ngu muội không hiểu được đạo trời, ta e rằng các con chỉ tốn công vô ích. Nếu các con đã quyết như thế, thì ta cũng không can dự. Nay ta ban cho các con ba món bảo vật phòng thân, khi nào gặp đại hoạ thì có thể buông bỏ nhân gian mà về Trời.
Nói xong, vị Đại Tiên trao cho vợ chồng Chử Đồng Tử một cái Nón quai thao, một cây Gậy phép và một quyển Sách ước. Chử Đồng Tử và Tiên Dung dập đầu ba lạy tạ ơn thầy rồi cùng nhau cưỡi mây bay về hạ giới.

5. Cây Tre Trăm Đốt
Ở dưới trần gian lúc ấy đã trôi qua hơn mười năm.
Trên đường bay về, ngang qua một rừng tre, cả hai nghe thấy tiếng khóc rất đáng thương bèn đáp xuống. Bên bờ suối ngổn ngang các cây tre, một anh nông dân đang ngồi than thân trách phận. Chử Đồng Tử hoá thân thành một ông lão râu tóc bạc phơ chống gậy đi tới hỏi:
– Này chàng trai, vì sao con khóc?
Chàng trai không ngừng khóc.
– Con lo việc hậu cần ở nhà phú ông từ nhỏ, con gái phú ông thương tình nên muốn lấy con làm chồng. Nhưng phú ông lại đòi sính lễ là một cây tre có một trăm đốt. Con đã đốn hạ từ sáng đến giờ mà không tìm thấy cây tre nào dài như thế. Thật là đen đủi cho con quá!
Chàng trai lại khóc to hơn. Chử Đồng Tử bật cười:
– Trên đời này làm gì có cây tre dài một trăm đốt? Chắc là con bị lão ấy gạt rồi. Hãy nhìn xem!
Chử Đồng Tử phất tay xuống dòng suối, hình ảnh phản chiếu hiện ra. Ở nhà phú ông đang tiếp đón một gia đình giàu có khác để bàn chuyện cưới xin cho con gái. Anh nông dân nhận ra sự tình, lại càng khóc to hơn.
Chử Đồng Tử ôn tồn khuyên nhủ:
– Ta có cách này, con hãy đi chặt đủ một trăm đốt tre đem về đây cho ta.
Anh nông dân vâng lời nghe theo. Khi anh mang tới đủ một trăm đốt tre. Chử Đồng Tử chỉ tay vào đống tre ấy mà đọc:
– Khắc Nhập! Khắc Nhập!
Tức thì một trăm đốt tre kết dính lại với nhau, nối dài thành cây tre trăm đốt.
Ông lại bảo anh nông dân hãy đọc:
– Khắc Xuất! Khắc Xuất!
Tức thì cây tre lại tách rời ra thành trăm đốt tre như trước.
Ông dặn:
– Con hãy nhớ kỹ, “Khắc Nhập” khiến vật chất liên kết, hợp nhất. “Khắc xuất” khiến vật chất tách rời, giải phóng. Cứ y thế mà niệm chú.
Anh nông dân vui mừng cảm tạ Tiên Ông rồi gánh đống tre ra về. Về tới nơi, phú ông nuốt lời không nhận sính lễ. Chẳng cần trả lời lão, anh nông dân lẩm nhẩm đọc “Khắc nhập, khắc nhập”, tức thì phú ông bị dính ngay vào cây tre, không sao gỡ ra được.
Phú ông ra sức van xin anh, lão hứa sẽ cho anh cưới ngay con gái lão và từ nay về sau không dám bày mưu lừa gạt anh nữa. Lúc bấy giờ anh nông dân mới đọc “Khắc xuất, khắc xuất”, tức thì phú ông rời ra khỏi cây tre. Anh nông dân cưới con gái phú ông làm vợ và hai người sống bên nhau rất hạnh phúc.
Theo thời gian, gốc cây tre kỳ lạ được tạo ra bằng phép tiên đã mọc rễ bám sâu xuống lòng đất, lớn lên thành một cây tre to. Trải qua năm tháng, cây tre thần đã hấp thụ linh khí của nhật nguyệt, lâu dần hoá thành tinh.
…
6. Kim – Mộc – Thuỷ – Hoả – Thổ
Chử Đồng Tử và Tiên Dung trở về căn nhà cũ ở thôn Chử Xá, hoá phép thành đồi núi, hang động, đón người vào giảng đạo thánh hiền, lại ban thuốc chữa bệnh cho dân. Chẳng bao lâu thì mọi người khắp nơi kéo về ấy sinh sống ngày một đông, hình thành một vùng buôn bán tấp nập, phồn thịnh, ai cũng kính thờ Tiên Dung và Chử Đồng Tử làm chúa.
Học trò tới bái sư mỗi lúc một nhiều, từ người phàm tới yêu ma đều được đón nhận bình đẳng như nhau. Chử Đồng Tử chia phép thuật thành năm môn, tương ứng với năm nguyên tố cấu tạo nên vạn vật: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Ai sinh ra có mệnh gì thì học phép ấy sẽ được bền lâu.
Các học trò ngây ngô hỏi:
– Thưa thầy, phép Tiên có cả trăm loại, mỗi loại lại chia cao thấp thành ngàn nhánh, tu luyện trăm năm cũng chưa chắc đã thành, vậy thì đến lúc chúng con đắc đạo, gia đình họ hàng chắc đã ly tán hết làm sao gặp lại?
Sư Tổ cười:
– Các con chớ lo, không gian trong hang động này vốn được ta đặt trong một kết giới. Thời gian nơi đây trôi chậm hơn bên ngoài, các con ở đây một trăm năm thì bên ngoài chỉ mới trôi qua hơn 10 năm. Vì vậy cứ chuyên tâm mà học tập.
Nghe vậy ai cũng yên lòng. Trong đám môn đồ của Chử Đồng Tử đặc biệt nổi bật hơn cả là:
- Tuấn – Học thông thạo phép đắp Thổ, sau này gọi là Sơn Tinh.
- Triều – Học thông thạo phép trị Thuỷ, sau này là Thuỷ Tinh.
- Đan – Hậu duệ đời thứ 18 đến từ làng rèn Ngựa sắt năm xưa. Cậu học thông thạo phép luyện Kim, sau này những binh khí lay chuyển đất trời của Sơn Tinh, Thủy Tinh đều do cậu rèn ra..
Cùng khoảng thời gian ấy, Tộc trưởng Hồ Tinh đời thứ 18, sinh hạ được chín người con, tướng mạo thông minh xuất chúng khác thường. Nghe tin thần tiên mở lớp dạy phép không phân biệt chúng sinh, chín anh em Hồ ly bèn rủ người bạn thân Tre Tinh cùng tìm tới hang của Chử Đồng Tử để bái sư, xin được tu thành chánh quả.
Chín anh em Hồ ly sau đó học thông thạo phép Hỏa công.
Chử Đồng Tử nhận ra Tre Tinh là linh hồn sinh ra từ phần gốc của cây tre trăm đốt. Ông thấy chuyện này thật huyền diệu, phép thuật của ông đã vô tình tạo nên một sinh linh thuần khiết. Chử Đồng Tử quyết tâm nghiên cứu, sáng tạo và viết hoàn thiện một bộ sách, đặt tên là “Thần Chú Khắc Nhập”. Bộ phép này lấy hệ Mộc làm gốc, sẽ giúp người luyện điều khiển tre hợp nhất, biến hoá theo ý muốn, nhưng cấp độ cao nhất chính là hợp nhất các nguyên tố khác nhau trong vũ trụ thành Một.
Ông bắt đầu truyền “Thần Chú Khắc Nhập” cho Tre Tinh đầu tiên, vì chung hệ Mộc nên Tre Tinh học rất nhanh, chẳng mấy chốc đã di chuyển được cả một rừng tre.

7. Voi chín ngà, Gà Chín cựa, Ngựa chín hồng mao
Tre Tinh chơi rất thân với Hồ Hạo, người anh cả trong đám Hồ ly. Mọi sự đang yên, thì bỗng một hôm Hồ Hạo tìm đến Tre Tinh hỏi rằng:
– Tôi nghe nói, Sư tổ dạy cho cậu mấy câu thần chú có thể hợp nhất mọi nguyên tố với nhau sao?
Tre Tinh khiêm tốn trả lời:
– À, chỉ là kết nối mấy đốt tre dính lại với nhau, để làm cái bàn cái chõng, dựng vách nhà tranh mà thôi, không thể sánh bằng các bộ phép khác.
Hồ Hạo bật cười:
– Tôi biết cậu xưa nay khiêm tốn. Nhưng chúng ta chơi thân với nhau chẳng lẽ cậu không thể trình diễn cho tôi xem một chút.
Hồ Hạo bước ra bãi cỏ cầm những đốt tre lên, trầm ngâm hỏi:
– Những đốt tre này có thể kết lại với nhau thành cây tre, vậy cậu nghĩ thế nào nếu nhiều người có thể hợp nhất lại trong một thân xác?
Tre Tinh ngạc nhiên:
– Chuyện này… tôi chưa từng nghĩ tới. Nó không thể được.
Hồ Hạo lại cười:
– Sao lại không được, về cơ bản thì mỗi chúng ta khi sinh ra đã ứng với một nguyên tố trong vũ trụ. Có người mang mệnh Hoả, lại có người mệnh Thuỷ. Nếu bộ phép của cậu có thể hợp nhất các nguyên tố, thì việc hợp nhất người với người hay với bất cứ thứ gì… là điều có thể làm được!
Tre Tinh giật mình khi nghe những lời của Hồ Hạo, cậu thấy trong bộ óc ấy là một trí tuệ siêu phàm và trong ánh mắt ấy là một tham vọng không có điểm dừng.
Tre Tinh có chút lo lắng nhìn lảng đi chỗ khác.
– Chà… Về mặt nguyên lý thì có vẻ đúng. Nhưng tôi chưa từng làm được các nguyên tố hợp nhất. Chắc chuyện này phải hỏi Sư Tổ để được khai sáng thêm.
Hồ Hạo lại hỏi:
– Cậu nghĩ vì sao chúng ta cần đan các thanh tre với nhau thành một bó?
Tre Tinh đáp:
– Để nó trở nên bền chặt không thể bị bẻ gãy. Đó là bài học về sự đoàn kết.
Hồ Hạo lại hỏi:
– Vậy chúng ta hợp nhất sức mạnh và trí tuệ của nhiều người thành một, chẳng phải là để mạnh mẽ hơn, bảo vệ được nhiều người hơn, ấy cũng là sự đoàn kết đúng không?
Hồ Hạo giơ đốt tre lên trước mặt Tre Tinh vẫy vẫy.
– Nào hãy nghĩ một chút đi nào, hai chuyện này rất giống nhau.
Tre Tinh nhìn đốt tre trên tay Hạo, suy nghĩ. Tre Tinh hỏi:
– Cậu có ý định gì sao?
Hạo thở dài, vứt mấy đốt tre xuống đất, rồi ngồi xuống một tảng đá nhìn về phía chân trời xa xăm, im lặng không nói gì. Trong ánh mắt Hạo chất chứa nỗi buồn dồn nén. Tre Tinh cũng ngồi xuống bên cạnh.
Hạo nói:
– Sau sự kiện ấy cha mẹ tôi đã mất. Cậu vẫn còn nhớ chuyện đó chứ…
Tre Tinh đáp:
– Tôi còn nhớ, tôi rất tiếc… chuyện ấy đã xảy ra nhiều năm rồi,… – dường như nhận ra điều gì đó, Tre Tinh bèn hỏi. – Chả nhẽ cậu định nhờ tôi gọi hồn cha mẹ cậu về nhập vào ai đó để nói chuyện? Phép của tôi không thể làm thế đâu!
Hạo nói:
– Không phải cái trò hầu đồng. Cậu hiểu nhầm ý tôi rồi. – Hạo thở dài lần nữa. – Giờ chỉ còn lại chín anh em tôi sống nương tựa vào nhau côi cút. Dân làng vẫn luôn rình rập săn đuổi, tôi sợ tai họa sẽ đến với các em tôi bất cứ lúc nào…
Hạo quay sang nhìn Tre Tinh:
– Chúng tôi không muốn bị chia cắt nữa. Cậu có thể giúp chúng tôi trở thành Một!
Tre Tinh nhìn Hạo. Trước sự nài nỉ của bạn, và cũng vì tò mò về giới hạn của phép thuật, Tre Tinh đã đồng ý thử nghiệm. Nhưng để đảm bảo phép thuật sẽ không làm hại Chín anh em Hồ ly, nên Tre Tinh sẽ thử trên động vật trước.
Bắt đầu với những con vật nhỏ như chín con gà, Tinh Tre đã hợp nhất chúng tạo nên Gà Chín Cựa. Cậu quyết định thử trên loài vật lớn hơn là chín con ngựa, hợp nhất thành công tạo nên Ngựa Chín Hồng Mao. Nhưng vẫn chưa yên tâm, cậu bèn thử lần nữa trên chín con voi, tạo nên Voi Chín Ngà. Những sinh vật này rất đẹp đẽ và hùng mạnh hơn hẳn đồng loại của chúng, sau này Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đã tranh nhau giành lấy chúng làm sính lễ để cưới công chúa Ngọc Hoa, con gái Vua Hùng thứ 18.
Khi đã thuần thục, Tre Tinh gọi Chín anh em Hồ ly tới thi triển phép hợp nhất. Họ đã trở thành một thực thể mới Cửu Vĩ Hồ hùng mạnh. Một con Cáo có chín tai, chín mắt và chín cái đuôi. Tre Tinh rất hài lòng, từ nay người bạn thân nhất của cậu sẽ được an toàn.
Nhưng Cửu Vĩ Hồ cười phá lên!
– Xin lỗi cậu, chúng tôi phải đi báo thù cho cha mẹ!
Tre Tinh nhận ra mình đã bị lừa, nhưng mọi thứ đã quá muộn.

8. Cửu Vĩ Hồ
Cửu Vĩ Hồ phát điên, tàn sát dân chúng quanh vùng vô cùng dã man. Lửa hận thù của nó thiêu rụi nhà cửa, ruộng đồng, rừng núi. Tre Tinh chạy tới can ngăn, tìm cách Khắc Xuất chín anh em, nhưng sự liên kết về mặt tinh thần của chúng quá mạnh, Tre Tinh bị đánh văng xa.
Hùng Vương thứ 18 nghe tin có yêu quái xuất hiện tức tốc cử quân tới đánh, nhưng không thể ngăn cản. Ngài tuyệt vọng chạy ra bờ biển mà gào to rằng:
– Bố ơi! Sao không lại cứu chúng tôi!
Tức thì cuồng phong nổi dậy, Lạc Long Quân – Tổ Tiên của người dân nước Văn Lang, từ dưới biển bay lên nhằm thẳng về phía Cửu Vĩ Hồ mà đánh.
Trận đánh kinh thiên động địa, cây rừng gãy đổ như ngả rạ. Đất đai nóng chảy, sâu bọ trốn sâu dưới vài trăm mét đất cũng chết.
Trong lúc ấy, Tre Tinh cũng chạy tới yểm trợ. Cậu hóa phép dựng lên các thành lũy bằng tre để nhân dân trú ẩn, nhờ vậy mà mọi người được bảo vệ khỏi chiến trận.
Đức Long Quân giao chiến dữ dội với Hồ Tinh. Suốt chín ngày chín đêm thì phong ấn được tám mảnh hồn của nó vào quả trứng tiên. Xác của nó rơi xuống mặt đất tạo thành một cái hồ lớn, gọi là Hồ Xác Cáo (Hồ Tây ngày nay). Nhưng một tàn hồn của nó đã kịp tách ra bay tản mác trong nhân gian.
Trước khi biến mất nó nguyền rủa với Đức Long Quân rằng: “Rồi đây ta sẽ khiến con cháu các ngươi nghi kỵ lẫn nhau. Huynh đệ sẽ tương tàn, thầy trò sẽ phản bội. Chúng sẽ tự tay phá bỏ di sản mà ngươi đã gây dựng và coi đó là vinh quang. Chúng sẽ căm ghét chính tổ tiên của mình! Chia rẽ, mãi mãi bị chia rẽ…!”
…
Sau khi lập công, Tre Tinh được Lạc Long Quân sắc phong thành Tiên, cai quản rừng tre quanh vùng ấy, ban cho áo mũ, từ nay về sau đời đời bảo vệ xóm làng.
Đức Long Quân trở về biển cả. Hùng Vương vẫn chưa hết tức giận. Có người báo rằng con yêu quái ấy đến từ thôn Chử Xá, chính là môn đồ của Chử Đồng Tử và Tiên Dung.
Hùng Vương cho là con gái đang có ý tạo phản, liền xuất binh đi đánh. Quân nhà Vua sắp đến, các môn đồ xin ra chống cự nhưng Tiên Dung khuyên chồng hãy cùng rời bỏ nhân gian, không kháng cự cha mình, để cho quốc thái dân an. Chử Đồng Tử nghe theo.
Trước khi cùng vợ quy ẩn, ngẫm thấy “Thần Chú Khắc Nhập” thật nguy hiểm, Ngài định tiêu huỷ nó, nhưng lại thấy tiếc tri thức, vì xét cho cùng tri thức không có tốt hay xấu mà phụ thuộc vào người dùng nó.
Cân nhắc kỹ, Ngài bèn làm chú ẩn đi một nửa quyển sách, chỉ giữ lại phần kết dính các đốt tre. Cứ để thuận theo nhân duyên, nếu sau này ai đó khai mở được phần ẩn ấy thì hẳn là ý Trời.
Sau đó, Ngài tập hợp các môn sinh lại mà bảo:
– Duyên phận của ta với nhân gian đã hết. Nay các ngươi, ai đến từ đâu hãy trở về ấy mà sinh sống. Phải luôn nhớ rằng sức mạnh lớn nhất là tình yêu thương và tấm lòng bác ái. Ta sẽ vẫn dõi theo các ngươi từ trên trời cao.
Nói xong Ngài trao lại Gậy phép và Sách ước cho Tuấn (Sơn Tinh), dặn dò chỉ dùng khi cấp bách. Ngài đi qua Tre Tinh, giờ đã là Tiên, đặt tay lên vai cậu không nói gì, như một cử chỉ tha thứ. Tiên tre lặng im hiểu ý thầy.
Xong đâu đấy, Chử Đồng Tử cùng vợ đội Nón quai thao mà biến mất. Các môn đồ đều dập đầu từ biệt.
Trời tối, quân nhà Vua đóng quân ở bãi cát cách đó một con sông. Đến nửa đêm bỗng nhiên bão to gió lớn nổi lên, hang động, đồi núi phút chốc bay lên trời. Chỗ nền đất cũ bỗng sụp xuống thành một cái đầm rất lớn.
Nhân dân cho đó là điều linh dị bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi đầm ấy là Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm) và gọi Ngài là Chử Đạo Tổ.
